Tiếng Anh trong mắt Siêu trí tuệ Dương Anh Vũ

⚡ TIẾNG ANH TRONG MẮT TÔI…
image

Qua một cuộc khảo sát nhỏ của cá nhân tôi về “cách thức sinh viên ghi nhớ từ vựng tiếng Anh và thuật ngữ chuyên ngành có gốc từ bằng tiếng Hy Lạp cổ và La Tinh”. Kết quả là hơn 76,2% sinh viên lựa chọn những cách thức khá “cổ xưa” để ghi nhớ từ vựng, phổ biến nhất là:

🔥 “Lầm bầm đại pháp”: đọc đi đọc lại từ vựng nhiều lần để nhớ, lúc nào trong miệng cũng lầm bầm một cái gì đó, giống như người bị bệnh… 🤣

🔥 “Phá rừng thần chưởng”: viết đi viết lại từ vựng lên giấy nháp để nhớ từ vựng. Phương pháp này cực kỳ tốn giấy nên tôi xem đây là một trong những hình thức tiếp tay cho phá rừng. 🤣

Nhiều bạn sinh viên với hơn chục năm học tiếng Anh ở thời phổ thông vẫn không thể tự tin rằng mình nhớ được 2000 từ vựng… mới nghe qua thì thấy hết sức vô lý, nhưng thực tế thi vô các trường đại học ở Việt Nam thấy đầy.

Khi tôi hỏi các bạn ấy về kế hoạch học từ mới trong tiếng Anh, có nhiều bạn sinh viên tự tin trình bày với tôi rằng: dạ thưa thầy, mỗi ngày em học 20 từ mới, có nghĩa là mỗi tháng em sẽ có 600 từ và một năm thì em học được 7.300 từ … ba la… ba la… Tôi hỏi đến phương pháp các bạn áp dụng trong kế hoạch này là gì? Các bạn ấy trả lời dông dài, nhưng trên thực tế lại quay về “Lầm bầm đại pháp” và “Phá rừng thần chưởng”, chứ chẳng có gì sáng tạo hơn.

Nói thật với các bạn, nếu chỉ sử dụng “Lầm bầm đại pháp” và “Phá rừng thần chưởng”, thì đây là một kế hoạch học từ vựng hài hước và vô lý nhất tôi từng biết. Tại sao? Vì trên thực tế ngày thứ nhất cứ cho rằng bạn học và nhớ được 20 từ đi, qua ngày thứ 2 bạn học 20 từ khác, nhưng bạn có đảm bảo rằng bạn vẫn còn nhớ được 20 từ của ngày thứ nhất không?

“Lầm bầm đại pháp” và “Phá rừng thần chưởng” thì không thể lưu từ vựng vô “Long – term Memory” (trí nhớ dài) mà chỉ lưu vô Short – term Memory (trí nhớ ngắn) mà thôi. Cái gì đã thuộc về trí nhớ ngắn thì 80% sẽ biến mất khỏi bộ nhớ của bạn trong 24h đầu tiên và 20% còn lại cũng sẽ mất luôn sau đó nếu bạn không ôn lại hoặc không có hình thức đưa nó vô bộ nhớ dài hạn. Ngoài ra việc bạn học mà không nhớ được dần dần sẽ khiến bạn chán nản, thậm chí là bị stress nặng, việc bỏ cuộc là chuyện sẽ đến nhanh thôi.

Tôi không quan tâm đến việc bạn học được bao nhiêu từ vựng trong một ngày, tôi cũng không quan tâm đến tốc độ học từ vựng của bạn nhanh hay chậm. Thứ duy nhất tôi quan tâm chính là kết quả, bạn nhớ được bao nhiêu? Qua 1 tuần, 1 tháng hay 1 năm bạn có còn nhớ những gì bạn đã học không?

Trong chương trình giảng dạy “Tiếng Anh sáng tạo”, một trong những phương pháp mà học viên tôi thích nhất chính là “Archaeological method” (PP Khảo cổ) và “Ký âm” trong “Hệ thống tư duy mạng nhện” (Spiderweb Thinking System). Những phương pháp này đều được tạo ra dựa trên “gốc từ”, và mỗi gốc từ luôn chứa đựng một câu chuyện đầy kịch tính và sáng tạo.

Khi càng nghiên cứu sâu về “ngôn ngữ” và “thuật ngữ khoa học” tôi càng thấy rõ một sợi dây vô hình đã kết nối cả thế giới này lại, nơi đó gọi là “nguồn cội của mọi tri thức”. Không phải chỉ có con người mới có nguồn cội, bất cứ thứ gì tồn tại trên thế giới này đều gắn liền với một nguồn gốc riêng của nó, và khi bạn đi đến tận cùng thì bạn sẽ phát hiện ra mọi thứ dù vô hình và hữu hình đều có cùng một nguồn gốc, chúng được sinh ra từ “trí tưởng tượng” của con người, thông qua năng lực “liên tưởng” và khả năng “kết nối tự nhiên”.

Trong hàng nghìn năm qua, loài người đã sử dụng ngôn ngữ để truyển tải thông tin, vì thế mà ngôn ngữ trở thành thứ giúp kết nối văn hoá, tri thức và giá trị của loài người. Ai hiểu ngôn ngữ, người đó sẽ mở được cánh cửa của sự hiểu biết và hôm nay tôi sẽ kể cho các bạn nghe về “linh hôn” của những từ vựng và thuật ngữ khoa học trong tiếng Anh, tôi tin rằng những câu chuyện này sẽ tạo cảm hứng cho nhiều người đặt ra mục tiêu lớn hơn trong việc chinh phục ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh cũng như sáng tạo hơn trong việc học thuật ngữ khoa học có gốc từ Hy Lạp cổ và Latinh khó nhớ.

❤️ Cái gì không có sẵn sẽ được đặt theo cách thức dễ nhận diện nhất.

Những thứ không có sẵn, nếu không vay mượn thì người Anh sẽ tạo ra những từ vựng bám sát với tính chất, đặc điểm hay vẻ ngoài của thứ đó, có nghĩa là chỉ cần đọc từ đó ra là bạn có thể hiểu được 1 phần bản chất của thứ đó. Điển hình nhất là từ “watermelon” (dưa hấu), Bank/Bankrupt (ngân hàng/phá sản), Jellyfish (loài sứa), Medusa Pepper (Ớt Medusa)…

🔥 Jellyfish (Con sứa)

Từ vựng chỉ “con sứa” trong tiếng Anh thực tế là một từ ghép tương tự như từ watermelon chỉ quả dưa hấu. Nếu tách từ Jellyfish ra thì bạn sẽ có 2 từ lần lược là “Jelly” có nghĩa là “thạch” và “fish” có nghĩa là “cá”. Thạch hay rau câu là một món ăn quen thuộc ở nhiều nền văn hoá, trong đó có Việt Nam, nó được tạo ra bằng cách trộn gelatin với các nguyên phụ liệu khác, khi hỗn hợp này đông lại thì chúng tạo ra một khối mềm và sóng sánh, trong tiếng Anh bạn cũng có thể gặp các từ ghép liên quan đến “Jelly” như: Jelly beans (kẹo dẻo), Jelly jam (mức thạch/mức rau câu)… Bạn nào từng sờ vô con sứa biển thì sẽ thấy rằng cơ thể của nó giống như một miếng thạch rau câu, mềm mềm và sóng sánh. Người sáng tạo ra từ vựng Jellyfish gắn thêm từ “cá” (fish) ở đằng sau nhầm nói đến việc loài này có thể bơi được như cá. Từ vựng Jellyfish lần đầu tiên được sử dụng vào năm 1796 và nó vẫn còn tiếp tục được sử dụng cho đến ngày nay, dù nhiều người thấy cái từ này rất buồn cười – cục thạch rau câu bơi như cá…

Nhiều trung tâm nuôi trồng thuỷ sản gọi loài sứa biển bằng từ “jelly” hoặc “sea jelly”, vì họ nghĩ rằng thêm từ “fish” vô là không hợp lý, vì “fish” hàm ý chỉ những loài động vật có xương sống. Trong nghiên cứu khoa học thì người ta dùng cả từ “jelly” và “jellyfish” để chỉ loài sứa.

❤️ Tạo Thuật ngữ và từ vựng từ điển tích:

Thông qua quá trình đọc và ghi nhớ, tính đến hôm nay tôi đã phát hiện ra khoảng 3.500 từ vựng và ít nhất 16.000 thuật ngữ khoa học được tạo ra từ các điển tích, tôi tin rằng con số này còn lớn hơn nhiều so với những gì tôi biết, điển hình như các thuật ngữ: Achilles tendon (gân Asin); Hypnosis (thôi miên); Thanatology (ngành tử vong học); Chimera virus; Phrygian cap (nếp gấp ở túi mật) hay các từ vựng trong tiếng Anh như: Insomnia (mất ngủ); Liberty (tự do) hoặc Victory (chiến thắng)…

🔥 Thanatophoric dysplasia:

Đây là một thuật ngữ trong ngành Y- Sinh, dùng để chỉ một rối loạn xương nghiêm trọng, đặc trưng bởi lồng ngực nhỏ không cân xứng, các chi cực ngắn và các nếp gấp da thừa trên cánh tay và chân. Theo ước tính thì cứ 60.000 ca sinh sẽ có 1 cá mắc chứng rối loạn xương này. Thuật ngữ “thanatophoric” được lấy từ tiếng Hy Lạp, có nghĩa là “mang theo cái chết”, vì trẻ mắc hội chứng này thường chết lưu hoặc chết ngay sau sinh do suy hô hấp, chỉ một số rất ít sống sót qua thời thơ ấu.

Trong Thần thoại Hy Lạp, Thanatos là tên của một vị thần thể hiện cho cái chết. Tên của vị thần này cũng được sử dụng để đặt cho 1 hành vi ở các loại động vật, đó là thuật ngữ “Thanatosis” (hành vi giả chết của các loài động vật khi gặp nguy hiểm). Tên của vị thần này cũng được đặt cho một ngành khoa học đó là “Thanatology” (Tử vong học), là môn khoa học nghiên cứu về cái chết. Ngành khoa học này điều tra hoàn cảnh môi trường lúc xảy ra sự chết, trạng thái của những người xung quanh trước sự ra đi của người thân, và thái độ của xã hội đối với cái chết như nghi lễ hay hồi ức. Là một nghiên cứu liên ngành, nó được các chuyên gia trong điều dưỡng, tâm lý học, xã hội học, tâm thần học, công tác xã hội quan tâm nghiên cứu. Nó cũng mô tả sự biến hóa của cơ thể trước và sau thời điểm chết.

🔥 Victory - Victoria & Nike

Victoria là tên của Nữ thần Chiến thắng trong Thần thoại La Mã và vị nữ thần tương đương trong Thần thoại Hy Lạp chính là Nữ thần Nike. Đây chính là nguồn gốc của từ “victory” (Chiến thắng) trong tiếng Anh và cũng thường dùng để đặt tên riêng cho nữ giới (Victoria), trong khi đó tên này được dùng cho nam giới là “Victor”. Người phụ nữ được mệnh danh là “Người bà của châu Âu” – Nữ hoàng Victoria của Anh cũng được đặt theo tên này, và thời kỳ trị vì của bà được lịch sử Anh gọi là “Victoria era” (1837 – 1901).

Hình tượng của Nữ thần Victory và cả Nữ thần Nike đều được tạo hình rất xinh đẹp, với đôi cánh trắng trên lưng. Hình tượng này đã đi vào nghệ thuật rất nhiều, nếu ai yêu thích môn bóng đá sẽ biết đến chiếc cup phiên bản đầu tiên của FIFA World Cup là hình ảnh một người phụ nữ có cánh, đây chính là “Nữ thần Chiến thắng Nike” trong Thần thoại Hy Lạp. Thương hiệu giầy Nike nổi tiếng Thế giới cũng được đặt theo tên của vị nữ thần này.

🔥 Mũ Phrygian và Phrygian cap túi mật:

Còn được gọi là “Mũ tự do”, loại mũ này đã xuất diện từ rất sớm trong lịch sử loài người, được sử dụng bởi một số dân tộc ở Đông Âu và Tiếu Á vào thời cổ đại. Sau này trong Cách mạng Mỹ và Cách mạng Pháp đã sử dụng Phrygian như một biểu thị cho tự do và theo đuổi tự do, nên dần dần nó là biểu tượng nói về “Liberty” và xuất hiện trên một số quốc huy hay quốc kỳ của các quốc gia trên thế giới. Tên của loại mũ này được đặt theo tên của người Phrygia sống ở Tiểu Á thời cổ đại. Tuy nhiên ngày nay thuật ngữ này còn được đưa vào Y học để chỉ một chỗ “gấp khúc” ở túi mật, vì nó giống hình tượng của chiếc mũ Phrygian nên nó cũng được gọi là “Phrygian cap”. Đây là một biến thể bình thường trong giải phẫu, được thấy ở 1-6% bệnh nhân. Trong siêu âm, thì phrygian cap ở túi mật thường gây ra nhầm lẫn với sỏi mật, ngoài ra thì nó không dẫn đến bất cứ việc mắc bất cứ một căn bệnh nào khác.

❤️ Thiếu thì vay mượn, nhưng tôn trọng bản sắc vốn có của từ gốc:

Người Anh và châu Âu nói chung rất khác với người Trung Quốc trong cách vay mượn từ vựng. Người Trung Quốc luôn cố biến mọi thứ thành cái của mình, dưới hình thức Hán hoá ngôn ngữ, trong khi đó người Anh thì tôn trọng ngôn ngữ nguyên gốc, nếu có biến đổi thì rất nhỏ. Điển hình như từ: Kowtow (khấu đầu) vay mượn từ tiếng Trung hay từ “tycoon” (trùm tư bản) vay mượn từ tiếng Nhật… dường như đều giữ nguyên gốc từ.

🔥 Margeritiferidae và Margeret:

Là tên khoa học của họ “trai ngọc nước ngọt”, bên trong các loài trai này có một lớp xà cừ dày, do đó chúng có thể tạo ra ngọc trai. Nguồn gốc của tên khoa học này là từ tiếng Ba Tư cổ, có nghĩa là “ngọc trai” (margārīta), sau này người châu Âu đã vay mượn từ này để dùng gọi tên riêng dành cho phụ nữ, như từ “Margaret” (tiếng Anh), “Marguerite” (tiếng Pháp), “Margarita” (tiếng Latinh), ý nghĩa của từ này là “ngọc trai” thay cho từ “pearl” đề cập đến vật chất cụ thể. Những nhân vật nổi tiếng thế giới có có tên “Margaret” khá nhiều, điển hình như Margeret Hilda Thatcher, nữ thủ tướng Anh được mệnh danh là “Iron lady” (người đàn bà thép). Nữ hoàng hiện nay của Vương quốc Đan Mạch cũng được đặt theo tên này – Margrethe II. Margaret Mitchell, tác giả của tiểu thuyết “Cuốn theo chiều gió” (Gone with the Wind) cũng được đặt theo tên này.

Vào đầu thế kỷ XX, Margaret là tên riêng phổ biến thứ 2 ở Hoa Kỳ, tính đến đợt điều tra dân số năm 1990, đây là cái tên phổ biến xếp thứ 9. Từ thế kỷ XI, tên Margaret đã được sử dụng làm tên gọi trong tiếng Anh và vẫn phổ biến trong suốt thời Trung Cổ, từ thế kỷ XVI – XVIII thì ít phổ biến hơn, nhưng lại phục hưng trở lại từ thế kỷ XIX cho đến nay. Nhiều tên riêng được dùng để đặt tên cho nữ giới có nguồn gốc từ Margaret như: Maggie, Marge, Rita, Gretchen, Peggy, Megan…

🔥 Thaler và Dollar:

Thuật ngữ “dollar” được 38 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới sử dụng để ngọi tiền tệ của mình, như: dollar Mỹ, dollar Canada, Dollar Hong Kong… Tên gọi này có nguồn gốc từ trong tiếng Đức đó là từ “thaler”, nó cũng là tên của một loại tiền tệ được sử dụng liên tục trong Đế quốc La Mã Thần thánh từ thế kỷ XVI. Trong tiếng Đức, “thaler/taler” có nghĩa là “của thung lũng” hay “thuộc về thung lũng”.

Nguồn gốc của từ vựng này có từ thế kỷ XVI, chuyện kể rằng: Vào nă m 1516, người ta phát hiện ra các mỏ bạc lớn ở thung lũng Joashimstal (thuộc Cộng hoà Séc ngày nay) và cho đúc những đồng tiền bằng bạc có kích thước lớn với đường kính khoảng 40mm và trọng lượng từ 25-30 gr. Trước đó, trong một thời gian rất dài, người châu Âu không còn đúc được những đồng xu bạc cỡ lớn như thế này nữa, vì nguồn bạc ở châu Âu được khai thác liên tục trong nhiều thế kỷ đã cạn kiệt, còn nguồn bạc ở ngoài thì không đến được châu Âu vì chúng bị Đế quốc Hồi giáo Ottoman khống chế, nên họ chỉ có thể đúc những đồng xu bạc cỡ nhỏ với lượng bạc khiêm tốn. Sau khi người Đức tìm được các nguồn bạc lớn từ vùng Bohemia thì họ cho đúc những đồng xu bạc có chất lượng tốt, và lấy ngay cái tên của của mỏ bạc ấy gọi thành tên tiền tệ, đó là đồng bạc “Joachimstaler” (Thung lũng thánh Joachim) và dần gọi ngắn gọn là “thaler” hay “taler”. Đồng thaler được dùng để thanh toán thương mại khắp châu Âu trong nhiều thế kỷ sau đó, và đến thế kỷ XIX thì người Anh đã thêm vô “dictionary” của mình từ mới này để chỉ tên tiền tệ của “Các quốc gia của người Đức”, nhưng thay vì ghi là taler/thaler thì họ viết thành “daler” và dần dần biến thành từ “dollar” như ngày nay.

🔥 Bánh sừng bò (Croissant)

Bánh Croissant/Bánh sừng bò là tên gọi của một loại bánh được làm bằng bột xốp (pâte feuilletée), được sử dụng làm thức ăn sáng nổi tiếng trên thế giới. Từ Croissant để chỉ loại bánh này trong tiếng Anh được lấy nguyên tên từ tiếng Pháp đưa vô. Trên thực tế thì bánh sừng bò có nguồn gốc từ Áo vào thế kỷ XVII, với tên gọi là “Kipfel” (tiếng Đức có nghĩa là “Trăng lưỡi liềm”). Nhưng tại sao tiếng Anh không vay mượn từ “Kipfel” trong tiếng Đức mà lại quyết dùng từ “Croissant” trong tiếng Pháp, có lẽ nào vì người Anh ghét Đức? Đương nhiên là không phải, chỉ đơn giản là vì loại bánh này chỉ thực sự nổi tiếng thế giới khi nó đến tay của người Pháp.

Sự ra đời của bánh Kipfel (Trăng lưỡi liềm) gắn liền với câu chuyện quân đội Đế quốc Hồi giáo Ottoman vay đánh thành Vienna của Áo. Họ vây hãm thành này nhiều ngày nhưng không đánh vô trong được, nên người Ottoman quyết định đào hầm ngầm dưới đất để vô thành, việc này đã được một thợ làm bánh của thành Vienna phát hiện ra, thế là anh này hô hoán lên, nhờ thế mà quân Áo đã ngăn chặn được âm mưu của người Thổ và đánh bại đạo quân của họ. Để mừng chiến thắng, người thợ bánh đã làm ra một loại bánh với hình dạng giống trăng lưỡi liềm trên lá cờ của quân Ottoman và gọi nó là Kipfel. Khi người Pháp biết đến loại bánh này, thay vi gọi là trăng lưỡi liềm như tên nguyên gốc trong tiếng Đức mà gọi bằng Croissant (sừng bò) vì họ thấy cái bánh giống sừng con bò. Tính ra người Pháp rất đểu…

(Tôi tin rằng sẽ có nhiều người thắc mắc, tại sao sự kiện diễn ra ở Áo mà lại được đặt tên bằng tiếng Đức? Thực ra thì Người Áo ngày nay đều có tổ tiên từ người Đức ở Bavaria, nên ngôn ngữ ngàn đời nay của họ là tiếng Đức, có nghĩa là ngôn ngữ chính thức của Cộng hoà Áo là tiếng Đức chứ không hề có ngôn ngữ nào trên thế giới gọi là tiếng Áo).

❤️ Những từ vựng và thuật ngữ ra đời từ sự nhầm lẫn:

Trong quá trình tham khảo các tài liệu, tôi đã phát hiện ra có rất nhiều thuật ngữ khoa học cũng như từ vựng trong tiếng Anh được đưa vô từ điển vì nhầm lẫn, nhưng do đã đưa vô rồi thì để nguyên đó và không hề bị loại bỏ ra. Tôi tin rằng các bạn sẽ phì cười khi biết về những câu chuyện nằm đằng sau sự nhầm lẫn này.

🔥 Turkey và loài Gà tây

Thực ra thì Turkey nó vốn là tên gọi của một quốc gia, đó là đất nước Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng song song đó thì nó cũng là tên gọi trong tiếng Anh của loài “gà tây”. Từ vựng này được đưa vô từ điển tiếng Anh do một sự nhầm lẫn tai hại.

Gà tây được thuần hoá ở Mexico vào thời cổ đại bởi người Aztec, có nghĩa là trước thế kỷ XV, cũng giống như khoai tây, khoai mì, cà chua, ớt, thuốc lá… người châu Âu và phần thế giới còn lại không hề biết đến sự tồn tại của chúng, mãi đến khi Christopher Columbus tìm ra châu Mỹ (1492), mở đường cho người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha thuộc địa hoá Tân Thế giới thì họ mới mang gà tây cũng như các loài hoa củ quả về châu Âu và phổ biến ra thế giới.

GS. Mario Pei của Đại học Columbia cho rằng, khi người châu Âu đến Tân Thế giới, lần đầu tiên bắt gặp loài gà tây, họ đã nghĩ rằng đó là loài chim “guineafowl” được nhập khẩu vào châu Âu bởi các thương gia người Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey), nên những người châu Âu này đã gọi tên loài chim mới gặp này là “Turkey”. Cũng có một giả thuyết khác cho rằng, loài gà tây đến Anh không phải trực tiếp từ châu Mỹ, mà thông qua các tàu buôn từ Trung Đông, nơi chúng đã được thuần hoá. Các thương nhân ở Trung Đông đều được gọi là người Thổ Nhĩ Kỳ, vì thời đó phần lớn lãnh thổ này được Đế quốc Ottoman của người Thổ cai trị. Người Anh cứ nghĩ rằng loài này đến từ lãnh địa của người Thổ nên mới gọi là Turkey để chỉ gà tây.

Dù giải thích dựa trên giả thuyết nào đi chăng nữa thì từ Turkey dùng để gọi gà tây trong tiếng Anh cũng đến từ một sự nhầm lẫn hài hước.

🔥 Capsicum Chinense:

Đây là tên khoa học của loài ớt “Đèn lồng vàng”, nổi tiếng với hương vị độc đáo và rất cay với chỉ số đơn vị nhiệt Scoville trên 1,5 triệu. Loài Capsicum Chinense cũng như các loài anh em của nó đều có nguồn gốc từ châu Mỹ, nhưng tên khoa học lại dính đến Trung Quốc (Chinense), tất cả đều do một sự nhầm lẫn tai hại của một nhà thực vật học. Chuyện là thế này: năm 1776, nhà thực vật học người Hà Lan tên là Nikolaus Joseph von Jacquin đã mô tả loài ớt này và đặt tên cho nó là Capsicum Chinense, vì ông ấy tin rằng chúng có nguồn gốc từ Trung Quốc, do ẩm thực của người Hoa sử dụng loại ớt này rất nhiều.

Sự nhầm lẫn này cũng xảy ra đối với loài Hibiscus Syriacus, được gọi là Hồng Sharon hay Hoa hồng Korea – Quốc hoa của Hàn Quốc. Loài này có nguồn gốc từ miền Nam Trung Quốc, nhưng vì lần đầu tiên các nhà thực vật học nhìn thấy là ở các khu vườn trong đất nước Syria, nên người ta mới đặt tên loài này là “Syriacus”. Việc nhầm lẫn trong việc đặt tên khoa học rất thường diễn ra, nhưng nhìn chung là vẫn được giữ nguyên chứ ít khi thay đổi.

❤️ NHẬN ĐỊNH:

Có nhiều người nghĩ rằng tôi biết nhiều vì tôi đọc nhiều, thực ra điều này chỉ đúng một nửa thôi. Tôi biết nhiều vì tôi đọc đến đâu tôi đều tìm cách nhớ đến đó và lưu dữ liệu vô “Long memory” chứ không phải “short memory”, nên tôi tổng hợp và liên kết được dữ liệu nhanh, nhớ nhiều cũng giúp tôi “thinking” tốt hơn. Tôi không quan tâm đến việc bản thân sẽ đọc được bao nhiêu trang sách một ngày, tôi cũng không quan tâm đến mình đọc nhanh hay chậm, tôi chỉ quan tâm: sau khi đọc xong thì bản thân mình nhớ và hiểu được bao nhiêu, sau 1 ngày, 1 năm, 10 năm hay 20 năm tôi còn nhớ được những kiến thức tôi từng đọc không?

Nếu bạn càng hiểu rõ một thông tin thì thông tin đó càng lưu lâu trong não của bạn. Vì bộ não luôn được lập trình rằng: “chỉ có những thứ bản thân quan tâm thì mới có nhu cầu biết rõ”, cho nên bất cứ thông tin nào được đọc lướt và nhận thức một cách hời hợt đều bị não bộ lưu vào short memory và cuối cùng là bị xoá bỏ… Đây cũng là lý do mà “Chúng ta chỉ nhớ được những gì chúng ta quan tâm”.

❤️ CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  • Mackenzie, Catherine (7 April 1935). “Food the City Likes Best”. The New York Times Magazine: SM18. Retrieved 15 April 2007. … the chef at the Rainbow Room launches into a description of his special steak, its French-fried onion rings, its button mushrooms …

  • Rorer, Sarah Tyson (c. 1902). “Page 211”. Mrs. Rorer’s New Cook Book. Philadelphia: Arnold & Company. p. 211. Retrieved 12 April 2007. French Fried Chicken

  • Cecil Adams (8 January 1993). “Why is Peggy the nickname for Margaret?”. The Straight Dope. Retrieved 13 August 2012.

  • “Margaret”. Online Etymology Dictionary. Retrieved 24 December 2012.

  • “Monier Williams Sanskrit-English Dictionary”. Universität zu Köln (University of Cologne). Retrieved 24 December 2012.

  • Frank Nuessel (1992). The Study of Names: A Guide to the Principles and Topics. Westport, CT: Greenwood Press. p. 10. Retrieved

  • Anderson, William (1863). The Scottish Nation (Volume 3: MAC to ZET) (PDF). Edinburgh: A. Fullerton & Co. p. 479. Retrieved 4 March 2008.

  • CBC News (26 July 2007). “Common surnames”. News In Depth. Retrieved 2 March 2008.

  • “1990 Census Name Files”. 30 March 2005. Archived from the original on 30 March 2005. Retrieved 8 October 2018.

  • “Pepper, Medusa Ornamental Pepper, Medusa Ornamental”. Direct Gardening. Archived from the original on 2013-09-06. Retrieved 2012-01-08.

  • “jellyfish”. Online Etymology Dictionary. Retrieved 9 June 2018.

  • Kelman, Janet Harvey; Rev. Theodore Wood (1910). The Sea-Shore, Shown to the Children. London: T. C. & E. C. Jack. p. 146. OL 7043926M.

  • Kaplan, Eugene H.; Kaplan, Susan L.; Peterson, Roger Tory (August 1999). A Field Guide to Coral Reefs: Caribbean and Florida. Boston : Houghton Mifflin. p. 55. ISBN 978-0-618-00211-5.

  • “English Dictionary, Thesaurus, & grammar help - Oxford Dictionaries”. Oxford Dictionaries - English.

  • Meilstrup JW, Hopper KD, Thieme GA (December 1991). “Imaging of gallbladder variants”. AJR Am J Roentgenol. 157 (6): 1205–8. doi:10.2214/ajr.157.6.1950867. PMID 1950867.

❤️ Đây là một bài viết của: PhD candidate. Dương Anh Vũ

🔥 Kỷ lục gia Trí nhớ Học thuật Thế giới

🔥 Chuyên gia Tham vấn Cấp cao của IIEP – UNESCO

🔥 Trưởng ban Cố vấn Khoa học Gameshow Siêu trí tuệ Việt Nam